Từng chút một

Sự hổ thẹn vì chưa biết được tham như là danh

Pháp học (pariyatti): Giáo lý giúp người ta hiểu được thực tại đang hiển lộ hiện giờ

[Nina] Bởi ngài nói rằng chân thật là một ba la mật rất khó, vì bạn có thể tự dẫn mình đi sai.

[A. Sujin] Vậy mục đích của việc học và lắng nghe Giáo lý cùng các thực tại là gì? Khi có hiểu biết về thực tại, điều đó có thể là con đường sai được không?

[Sarah] Rất khó biết được đó là đúng hay sai.

[A. Sujin] Không phải chữ nghĩa mà chúng ta đang cố nói ra, rằng con đường đó sai hay đúng, mà là hiểu biết về các thực tại. Bất cứ khi nào có hiểu biết về các thực tại, ta có thể nói rằng đó là sai, là con đường sai, hay không?

Vậy nó không chỉ là lời nói để bảo rằng sai hay đúng. Nó chỉ là sự suy nghĩ được tạo duyên bởi hiểu biết ở mức độ pháp học. Nó tùy thuộc vào việc người ta biết gì về pháp học, mà pháp học không phải là chữ nghĩa. Pháp học nghĩa là Giáo lý giúp người ta hiểu được thực tại đang hiển lộ hiện giờ.

Không cần nghĩ bằng chữ, chỉ cần trở nên quen với đặc tính ấy như một thực tại

[Sukin] Vâng, và bất cứ cái gì hiển lộ hiện giờ đều tạo duyên cho suy nghĩ. Và nó có thể chỉ là một hiểu biết mơ hồ.

[A. Sujin] Khi nó đúng, thì dù mơ hồ, nó vẫn đúng. Chẳng hạn, khi có hiểu biết rằng khoảnh khắc này ngay lúc này là một pháp với đặc tính của một thực tại, điều đó không thể sai, bởi nó là thật. [Nó phải hiển lộ cho chánh niệm (sati), một đặc tính.]

Khoảnh khắc suy nghĩ ấy là suy nghĩ đúng. Vì vậy cần phải có hiểu biết về những khoảnh khắc có Tứ niệm xứ (satipaṭṭhāna) và những khoảnh khắc không có. Bằng không, nó chỉ là nói về bốn niệm xứ mà không phát triển Tứ niệm xứ, bởi không hiểu được đặc tính của Tứ niệm xứ.

[Sarah] Và đây, chúng ta đang ở Kuru, nơi Kinh Niệm Xứ đã được thuyết.

[A. Sujin] Bởi nó không chỉ là nghe hay suy nghĩ, mà còn là kinh nghiệm trực tiếp nữa. Tôi nghĩ rằng nó được gọi là Tứ niệm xứ bởi mọi thứ đều là Tứ niệm xứ. Bất kể đó là thân, thọ, tâm hay pháp. Và có các pháp ngay lúc này, có Tứ niệm xứ ngay lúc này. Vậy Kinh Niệm Xứ bao gồm mọi cái có thực.

[Sukin] Biết được sự khác biệt giữa danh (nāma) và sắc (rūpa) thì tốt hơn.

[A. Sujin] Là hiểu được những đặc tính khác nhau của chúng. Cái không thể kinh nghiệm bất cứ gì thì đang ở đây và ngay lúc này: đối tượng thị giác không thể hiểu được gì cả. Nhưng chúng ta không hề phải nghĩ bằng chữ. Chỉ cần trở nên quen với đặc tính ấy như một thực tại. Chỉ có thế.

Sự hổ thẹn vì chưa biết được tham như là danh

[Sarah] Trí tuệ ở mức độ cao hơn thật sự có thể thấy được hiểm họa của bất thiện.

[A. Sujin] Nó tùy thuộc vào mức độ của trí tuệ (paññā), bởi với một người đang phát triển hiểu biết đúng để trở thành bậc Dự lưu (sotāpanna), không có thời gian để biết đó là thiện hay bất thiện, vì tác ý (manasikāra) cùng với trí tuệ chỉ đang hướng tới đặc tính của danh, cái vốn vô ngã. Tham (lobha) có đó, nhưng không có sự để tâm tới tham như là tham, chỉ như một thực tại, chỉ là một thực tại.

[Jonothan] Thưa Achaan, bà nói “tham có đó, nhưng…”, bà giải thích thêm được không?

[A. Sujin] Bởi, bạn thấy đó, người ấy chưa biết các đặc tính của danh và sắc một cách rõ ràng, và các thực tại sinh và diệt quá nhanh, dù đó là tham, nhưng là đặc tính của cái-tham-không-phải-của-tôi, không-phải-tự-ngã mà chỉ-là-một-thực-tại.

Vậy trí tuệ ở mức độ đó chỉ hướng tới đặc tính của danh. Dù đó là tham, nó hoàn toàn không để ý đó là tham hay sân. Chỉ là đặc tính của danh đang có đó, được biết rằng nó vô ngã, chỉ là một thực tại. Không có sự để tâm tới đặc tính của tham như là tham; hay tới thọ (vedanā) nào đang có đó, những điều như vậy.

Chẳng hạn, cái này cứng, ta có cần nói gì không? Bởi cứng sinh và diệt trước khi ta có thể đo lường nó, xem đó là mức độ này hay mức độ kia, mà trí tuệ chỉ mới bắt đầu để tâm tới đặc tính không-có-ngã-ở-trong-đó. Chỉ có thế. Để có thể phân biệt được đặc tính của danh với sắc, để nó có thể hiển lộ mà không còn hoài nghi, không còn chút vô minh (avijjā) nào. [Con cứ tưởng rằng tham thì phải được biết như là tham.]

Khi nó được biết như là tham, thì sẽ có sự hổ thẹn về tham, bởi ở khoảnh khắc ấy nó đã hiểu tham như một danh pháp rồi. Tốt hơn thế, sâu hơn thế, vi tế hơn thế, nên mới có thể có sự hổ thẹn. Nhưng ở mức độ kia, chỉ có thể có sự hổ thẹn vì chưa biết được tham như là danh. Vì vậy, trước khi trở thành bậc Nhất lai (sakadāgāmī) hay Bất lai (anāgāmī), phải có hiểu biết về thực tại, bất kể đó là tham, sân hay bất cứ gì. Không ai có thể thay đổi được điều đó, mà sự để tâm chỉ ở đó, đang bắt đầu biết hay đến gần hơn với đặc tính của danh như một thực tại.

[Sukin] Với hiểu biết về các pháp, có nhiều mức độ biết chúng.

[A. Sujin] Bằng không thì chỉ có A-la-hán thôi. Chẳng hạn, chúng ta đang nói về danh và pháp hiện giờ, nhưng nó tùy thuộc vào việc trí tuệ có sinh khởi cùng Tứ niệm xứ hay không, và khi nó sinh khởi, đó là mới ở bước đầu hay đã tiến xa hơn, để hiểu nhanh hơn. Thấy không, nó tùy thuộc.

Tứ niệm xứ: nhiều hơn hẳn việc chỉ biết bằng chữ nghĩa hay bằng suy nghĩ

[Sarah] Bà nói thượng giới học (adhisīla) là Tứ niệm xứ. Vậy có nghĩa là thượng định học (adhicitta) và thượng tuệ học (adhipaññā) cũng là Tứ niệm xứ?

[A. Sujin] Và cùng một lúc, bởi không thể có thượng giới mà không có thượng định. Và chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa khoảnh khắc có Tứ niệm xứ, rằng nó khác với những khoảnh khắc khác. Vì vậy nó là thượng giới, thượng định và thượng tuệ, qua sự hay biết trực tiếp. [Và khi bà nói thượng giới và giới thu thúc lục căn (indriya saṃvara sīla)… khi nó là Tứ niệm xứ.]

Nó có thể được thành tựu ở khoảnh khắc siêu thế (lokuttara) để là thượng giới, thượng định và thượng tuệ. Nhưng trước đó cũng phải có những khoảnh khắc phát triển.

[Sukin] Vậy biết tâm từ như là tâm từ cũng là thượng giới?

[A. Sujin] Là vô ngã. [Đó có phải thượng giới không?]

Khi nó là Tứ niệm xứ. Nó nhiều hơn hẳn việc chỉ biết bằng chữ nghĩa hay bằng suy nghĩ. Nhờ đó người ta có thể thấy được khoảnh khắc đang hay biết trực tiếp.

[Vậy thượng giới không phải nói tới giới theo cách ta vẫn biết.]

Bởi chính cái ngã là cái giữ giới, trong khi đây là hiểu biết về các thực tại. Vậy nó tốt hơn nhiều, thấy được cả khoảnh khắc bất thiện, thay vì để nó lọt vào qua thân và lời rồi mới biết. [Vậy thượng giới nghĩa là nhiều hơn chỉ là giới?]

Chắc chắn rồi. Vì vậy mới có tiền tố adhi: thượng giới, thượng định. [Nó liên quan tới…] Hiểu biết và sự hay biết trực tiếp. [Và sự làm trong sạch.] Sớm vậy sao? Mọi thứ đã có đó cả rồi sao? Từng chút một, từng chút một.

Lý Duyên Khởi: không cần đợi mới nói về xúc

[Azita] Sáng nay con có đọc quyển sách nhỏ của con về Lý Duyên Khởi.

[A. Sujin] Hiện giờ có tâm bất thiện, được chứ? Chúng ta có nên nói về vô minh, cái làm duyên cho tâm bất thiện này, không? Vậy chúng ta có thể bắt đầu từ bất cứ đâu. Nó không có nghĩa là phải có vô minh trước, rồi sau đó mới có hành (saṅkhāra). Mà chúng ta có thể nói về vô minh, và chúng ta biết vô minh sinh khởi cùng với mỗi bất thiện. Và khi chúng ta nói về bất thiện, chúng ta biết rằng có vô minh làm duyên. Chúng ta phải nói về chúng mỗi lần một cái, nhưng chúng đi cùng nhau, sinh khởi cùng nhau. [Vậy mỗi phần của cái đó…]

Nó có đó; nó tùy thuộc vào việc bạn có nói về xúc (phassa) hay không. Bởi bạn thấy đó, khi là tâm bất thiện, thì phải có xúc. Vậy chúng ta không cần phải đợi mới nói về xúc. Mà chúng ta có thể nói về xúc.

Vì vậy Đức Phật đã nói vô minh làm duyên cho hành, rồi theo chiều ngược lại: từ đây tới đó, từ đó tới đây. Thấy không, hay là từ khoảng giữa, ngay cả lúc này, có xúc làm duyên cho tham ái (taṇhā) hay tham. [Vậy con có thể đọc lại và thử đặt nó vào khoảnh khắc hiện tại.]

Tôi nghĩ rằng với hiểu biết về các thực tại, bất cứ khi nào bạn đọc bất cứ điều gì, bạn sẽ hiểu. Nhưng khi không có hiểu biết về thực tại cho tốt, chúng ta có hoài nghi về đề mục này, Lý Duyên Khởi hay các Thánh đế và vv. Nhưng khi có hiểu biết về các thực tại, không còn hoài nghi. Bất kể chúng ta nói về đề mục này hay những đề mục khác, cũng cùng một điều, đều phải là về các thực tại.

Nguồn: https://dhammatranscripts.blogspot.com/2026/09/shame-of-not-yet-knowing-lobha-as-nama.html