Từng chút một

Pháp, bắt đầu hiểu như pháp đang là

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.

Tất cả các pháp đều là vô ngã
Chúng ta cùng nói và đàm luận về Giáo lý của Đức Phật nhé? Sau khi giác ngộ, Ngài đã nói gì? Tất cả các pháp (dhamma) đều là vô ngã (anattā). Có đúng vậy không? Tất cả các pháp đều là vô ngã. Chẳng phải đó là điều Ngài đã nói sau khi giác ngộ hay sao? Nhưng chúng ta chưa hiểu được sự thật của Pháp. Chỉ riêng chữ dhamma thôi, nó là gì? Đấy, có người sẽ nói đó là Giáo lý của Đức Phật, nhưng là về cái gì? Ngài dạy về cái gì?

Về sự thật của từng khoảnh khắc: chân pháp (sacca dhamma). Pháp là bất cứ cái gì có thực, nó có đặc tính riêng của nó, hiển lộ để được hiểu rằng nó chỉ là cái có thực: nó là một thực tại. Và đó là Thánh đế thứ nhất trong Tứ Thánh Đế. Thánh đế thứ nhất là Khổ Thánh đế (dukkha ariya sacca). Nếu ta không biết sự thật (sacca) là gì và khổ (dukkha) là gì, làm sao ta có thể hiểu được Giáo lý của bậc Giác Ngộ?

Đó là sự thật tối hậu của bất cứ cái gì đang xuất hiện, bất cứ khoảnh khắc nào, kể cả ngay lúc này. Nếu Ngài không dạy về cái đang xuất hiện ngay lúc này, làm sao có thể có sự hiểu về khoảnh khắc này, và các khoảnh khắc khác, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, những gì đang xuất hiện, chúng có thực hay không? Vì vậy nó không phải chỉ là mơ mộng về sự thật, về minh sát (vipassanā), về bất cứ điều gì, mà không có chút hiểu biết nào về sự thật của khoảnh khắc này như nó đang là. Trước khi nghe Giáo lý của Đức Phật, ai biết được cái gì đang xuất hiện hiện giờ?

Chẳng phải đó là điều Ngài đã dạy trong bốn mươi lăm năm hay sao? Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), Kinh (Sutta), Luật (Vinaya), tất cả đều là pháp, tất cả đều là pháp chân đế (paramattha dhamma), sự thật tối hậu. Nó không thể bị thay đổi. Bất cứ cái gì đang xuất hiện thì nó là như vậy, không ai có thể làm cho khoảnh khắc ấy, khi nó đang xuất hiện, trở thành khác đi.

Khổ Thánh đế
Vậy cái gì có thực hiện giờ? Chẳng phải Đức Phật đã liễu ngộ sự thật và dạy về cái có thể được biết, cái vốn không thường hằng, hay sao? Khổ Thánh đế: bất cứ thực tại nào đang xuất hiện đều sinh và diệt, không bao giờ trở lại nữa. Ngay cả cái thấy hiện giờ, chỉ có đúng khoảnh khắc thấy ấy, rồi diệt đi, không bao giờ trở lại. Vậy làm sao có thể là “tôi” thấy, con chó thấy, con mèo thấy, ai đó thấy? Bởi cái thấy chỉ sinh khởi rồi diệt đi. Chẳng phải đó là ý nghĩa của Khổ Thánh đế, Thánh đế thứ nhất, hay sao?

Có đúng vậy không? Ba la mật chân thật (sacca pāramī). Hiểu được sự thật là ba la mật trí tuệ (paññā pāramī). Không có sự phát triển trí tuệ (paññā) ngay từ bước đầu để liễu ngộ sự thật thì đó không phải là Giáo lý của Đức Phật. Nhưng sự hiểu thì khác với vô minh: không có chút hiểu biết nào về cái thấy cả, chỉ mơ mộng việc liễu ngộ Tứ Thánh Đế, Thánh đế thứ nhất. Nhưng Thánh đế thứ nhất là: bất cứ cái gì sinh khởi thì diệt đi, không bao giờ tồn tại lâu, tất cả mất đi tức thời.

Vậy điều đó có dễ chịu không? Từ không có gì trở thành một cái gì, rồi lại không có gì. Vậy ích gì, lợi lạc gì trong việc chỉ sinh khởi rồi diệt đi? Nó y như trước khi nó sinh khởi, nó không còn ở đó nữa. Chẳng phải đó là điều Ngài đã dạy hay sao? Chẳng phải đó là lời của Đức Phật hay sao? Khổ Thánh đế, bất cứ cái gì sinh khởi thì diệt đi tức thời, rất nhanh, rất chóng, cái nọ tiếp cái kia.

Vì vậy sự sinh khởi và diệt đi của từng cái bị che lấp bởi sự nối tiếp quá nhanh từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, ngay lúc này. Khoảnh khắc này không phải khoảnh khắc trước, không phải một khoảnh khắc tương lai, chỉ một khoảnh khắc tại một thời điểm rồi diệt, từ sinh đến tử.

Phức hợp làm sao, cái gì đang xuất hiện hiện giờ? Nhiều thứ, dường như cùng trong một khoảnh khắc, nhưng trong sự thật, cái có thực chỉ nằm trong một khoảnh khắc tích tắc. Có đúng vậy không? Chẳng phải điều này nằm trong Tam Tạng (Tipiṭaka) hay sao? Chẳng phải đó là Vi Diệu Pháp, Kinh và Luật hay sao? Tất cả chỉ nói về sự thật tối hậu của cái đang xuất hiện như là vô ngã: tất cả các pháp đều là vô ngã.

Vì vậy Giáo lý của Đức Phật phải theo từng giai đoạn, từng mức độ. Như vậy, có ba lần chuyển của Tứ Thánh Đế, bốn Thánh đế (ariya sacca). Lần chuyển thứ nhất là hiểu trên mức độ tư duy sự thật của cả bốn Thánh đế: Khổ Thánh đế (dukkha ariya sacca), Khổ Tập Thánh đế (dukkha samudaya ariya sacca), Khổ Diệt Thánh đế (dukkha nirodha ariya sacca), và con đường, Đạo Thánh đế (magga ariya sacca). Lần chuyển ấy dẫn tới việc hiểu trực tiếp cái đang xuất hiện, rất gần, vì nó ở đó từ đầu đến chân.

Thế giới đang ở đó: cái thấy ở đó, cái nghe ở đó, suy nghĩ ở đó, thích ở đó, không thích ở đó. Bất cứ cái gì trong cuộc sống, từ đầu đến chân, không bao giờ có thể thoát ra được. Có đúng vậy không? Không phải chỉ để tin, mà để hiểu xem nó có thật hay không, để có tín tâm vào sự thật, rằng sự thật là sự thật. Khoảnh khắc thấy không phải khoảnh khắc nghe, và mỗi khoảnh khắc khác nhau được tạo duyên bởi những duyên khác nhau. Cái thấy thấy những đối tượng khác nhau, chúng có thể tạo duyên cho dính mắc hay sân (dosa) do duyên, đấy.

Mỗi khoảnh khắc đều có thể được nghiên cứu, có thể được học, có thể được phát triển. Có thể có sự hay biết trực tiếp về bản chất của nó như nó đang là, để dần dần buông bỏ hiểu biết sai và ý niệm về một cái gì, một ai đó, hay “tôi” ngay lúc này.

Cuộc sống chỉ trong một khoảnh khắc

Cuộc sống chỉ ở đúng khoảnh khắc này, mỗi lần chỉ một khoảnh khắc.

Vậy cuộc sống hiện giờ, khoảnh khắc này, là gì? Đó là khoảnh khắc của cái thấy. Vậy đó có phải là cuộc sống không? Cái thấy là một phần của cuộc sống, hay là một khoảnh khắc của cuộc sống?

Bởi chúng ta sinh ra để thấy, để nghe, để ngửi, để nếm, để xúc chạm, và để suy nghĩ về bất cứ điều gì sau khi thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm. Nghĩ về cái đã có đó dưới dạng hình dáng và hình thể, như dấu hiệu của một cái gì được biết đến: như con người và đồ vật. Nhưng trong sự thật, cái được thấy không thể là bất cứ thứ gì hay bất cứ ai cả.

Chỉ sinh ra để thấy, để nghe, để ngửi, để nếm, để xúc chạm, và để suy nghĩ, ngay lúc này, phải vậy không? Sự thật là bất cứ cái gì sinh khởi đều được duyên (paccaya) tương ứng làm cho sinh khởi. Cái in dấu lên nhãn căn tạo duyên cho cái thấy thấy đúng cái đang xuất hiện, đang in dấu lên nhãn căn. Ngay lúc này, ai biết được? Đây là những lời của bậc Giác Ngộ. Vậy Đức Phật đã liễu ngộ hay giác ngộ điều gì? Bản chất, thực tại ngay lúc này như nó đang là: cái thấy chỉ là một khoảnh khắc, sinh khởi để thấy rồi diệt đi.

Cái nghe không phải cái thấy, chúng không bao giờ có thể ở cùng một khoảnh khắc, mà ở những khoảnh khắc khác nhau, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác trong cuộc sống, từ sinh đến tử. Chẳng phải đó là Giáo lý của Đức Phật hay sao? Không có gì thường hằng, bất cứ cái gì sinh khởi thì diệt đi tức thời. Nhưng cái gì sinh ra và cái gì chết đi? Không ai cả, chỉ có thực tại được sinh ra hay sinh khởi để kinh nghiệm đối tượng của nó, từ khoảnh khắc đầu tiên trong cuộc sống, nó ở đó, chỉ sinh khởi để kinh nghiệm đối tượng của nó.

Nhưng đối tượng của khoảnh khắc tái sinh thì không được biết đến, bởi nó không phải đối tượng của thế giới này, nó không phải cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được xúc chạm và vv. Mỗi khoảnh khắc đều khác nhau do duyên. Đức Phật đã dạy chi tiết về từng khoảnh khắc và về các duyên cho bất cứ cái gì sinh khởi, chi tiết đến như vậy.

Vậy, đó là cách để dần dần buông bỏ sự dính mắc vào cái đang xuất hiện với vô minh (avijjā) và dính mắc (lobha), bởi không có sự hiểu về sự thật rằng nó không còn ở đó nữa, ngay cả lúc này. Có đúng vậy không? Chỉ cần lắng nghe, suy xét sự thật. Rồi đến khi ấy, ở khoảnh khắc hiểu được sự vi tế của thực tại ngay lúc này, mới là lúc biết được ai là bậc Giác Ngộ, ai là Đức Phật. Và Giáo lý của Ngài nói về điều gì: sự thật của từng khoảnh khắc trong cuộc sống.

Nếu đó không phải Giáo lý để hiểu sự thật của bất cứ cái gì đang xuất hiện trong cuộc sống, từng khoảnh khắc, thì liệu đó có thể là cái mà chúng ta gọi và đảnh lễ là Đức Phật, bậc Giác Ngộ, hay không? Liệu đó có thể là sự thật hay không? Và chân thật với sự thật chính là ba la mật chân thật. Chỉ có sự hiểu, sự tín tâm vào sự thật của cái đang xuất hiện như nó đang là, mới là con đường duy nhất để phát triển sự hiểu về từng thực tại sinh khởi rồi diệt đi trong tích tắc.

Không có một ai hay một “tôi” có thể cố gắng phát triển, cố định tâm, cố thực hành thiền. Để biết cái gì? Đó có phải Giáo lý của Đức Phật không? Vậy là chúng ta hiểu sai chữ “thiền” hay “hành thiền” hay “quán chiếu”, hay bất cứ chữ nào bạn dùng, bởi nó không phải chỉ là ngồi xuống và làm một cái gì, tập trung, mà không có chút hiểu biết nào cả, chỉ muốn kinh nghiệm một cái gì, không biết đó là cái gì. Nhưng nó không phải cái hiện giờ, cái để được biết, bởi nó đang cố làm một cái gì, cố biết một cái gì, và không biết đó là cái gì. Có đúng vậy không? Phải chân thật với sự thật.

Thông thường bhāvanā được dịch là “thiền”, và người ta lập tức có ý niệm, như Achaan đã đề cập ở đầu, về việc ngồi xuống và tập trung, theo một pháp hành. Vậy hiện giờ chúng ta có đang phát triển tâm trí (bhāvanā) không? Bố thí (dāna), trì giới (sīla). Đó có phải bhāvanā, chỉ là khoảnh khắc thiện (kusala)? Vậy hiện giờ chúng ta có đang ở bhāvanā, ở mức độ bhāvanā, hay chưa?

Pháp là gì
Đó có phải Giáo lý của Đức Phật không? Hay Đức Phật không nói gì về khoảnh khắc này? Bằng không thì làm sao Ngài trở thành Đức Phật, bậc Giác Ngộ, mà không hiểu sự vi tế của khoảnh khắc hiện giờ như là không ai và không cái gì, chỉ là pháp, những pháp khác nhau?

Vậy pháp là gì? Nó là một thực tại. Làm sao ta biết nó là một thực tại? Nó có đặc tính riêng hiển lộ để được biết. Có cái thấy ngay lúc này, ai cũng biết. Cái thấy thấy cái được thấy, cái in dấu lên nhãn căn. Nó không thể được cho là bất cứ thứ gì: chỉ một điểm, một khoảnh khắc thấy tích tắc. Nó không thể thấy cái toà nhà cao kia, cái cửa sổ, hay cái ghế, hay cái giường, hay con chó. Nó chỉ là một điểm, từ điểm sang điểm, điểm sang điểm, cho đến khi nó tạo duyên cho hình dáng và hình thể, to hay nhỏ, nâu hay đỏ, thành cái mà ta cho là một cái gì, qua những hình dáng và hình thể khác nhau.

Có đúng vậy không? Không có màu, những màu khác nhau, thì có thể có hình dáng và hình thể nào để được cho là một cái gì hay không? Đôi giày, cái gương, cái tivi, đấy. Chẳng phải đúng vậy sao? Không phải chỉ để tin, mà để suy xét sự thật hiện giờ, khoảnh khắc này. Chúng ta đang nói về cái đang xuất hiện như nó đang là, cái đã được bậc Giác Ngộ, chính Đức Phật, liễu ngộ.

Sau khi giác ngộ, Ngài đã nói gì? Pháp rất vi tế, nhưng nó có thể được nghiên cứu, có thể được biết, có thể được liễu ngộ. Có thể được. Bằng cách nào? Bằng cách lắng nghe lời nói về nó, như nó đang là, để suy xét nó, như nó đang là, bắt đầu hiểu như nó đang là, từng chút một, cho đến khi hiểu biết đúng đủ mạnh, đủ sắc, đủ sâu để liễu ngộ sự thật của cái đang xuất hiện ngay lúc này, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, do duyên: vô ngã.

Một người đang bắt đầu hiểu các thực tại là gì, và những cái khác là khái niệm (paññatti), hay ý niệm. Vậy hiện giờ có Pháp không? Có. Hiện giờ đó là pháp gì? Cái nghe, cái thấy. Được, tại sao nó là một pháp? Bởi nó có thực, phải không? Ở khoảnh khắc nghe, cái nghe là có thực. Vậy bất cứ cái gì có thực đều là pháp. Và âm thanh cũng là pháp chứ? Tại sao âm thanh là một pháp?

Bất cứ cái gì có thực. Dhamma nghĩa là bất cứ cái gì có thực, trong các ngôn ngữ khác nhau, trong tiếng Anh, tiếng Thái, và tiếng Pāli, dhamma là bất cứ cái gì có thực. Tại sao là có thực? Bởi nó ở đó. Cái thấy ở đó hiện giờ, cái thấy. Cái nghe ở đó hiện giờ, cái nghe. Âm thanh ở đó hiện giờ, được nghe. Bất kể thể nào, cái gì có thực thì có đặc tính riêng của nó, để là cái có thực. Bất cứ cái gì có thực đều là một pháp, phải không?

Vậy nó không phải con mèo, không phải con chó. Nó là gì? Khi bạn thấy cái mà bạn cho là con chó hay con mèo, trong sự thật, cái gì đang xuất hiện? Cái gì là thật? Cái gì có thực? Vậy cái thấy là cái thấy, hay cái thấy là con chó? Cái thấy không phải con chó, cái thấy chỉ là cái thấy. Vậy cái thấy không phải bất cứ ai, nó là chính cái thấy. Và đây chính là sự hiểu về sự thật, sự thật tối hậu của Pháp: bất cứ cái gì có thực đều có đặc tính riêng của nó, phải không?

Âm thanh không thể là mùi, nhưng nó có thực. Âm thanh có thực, mùi có thực, cái thấy có thực, suy nghĩ có thực, dính mắc có thực, sân có thực. Bất cứ cái gì đang xuất hiện đều có thực. Vậy mỗi ngày, những cái đang xuất hiện không thể là bất cứ ai hay bất cứ thứ gì, chỉ là những thực tại do duyên khác nhau sinh khởi rồi diệt đi từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, từ sáng đến chiều, những khoảnh khắc khác nhau, sinh khởi rồi diệt đi. Đó có phải khổ không? Vâng, đó là khổ.

Và khi một người đau bệnh, đó có phải khổ không? Đó cũng là khổ. Khi ấy cái gì đang xuất hiện? Bản chất của cái mà ta gọi là bệnh tật là gì? Bản chất của nó là gì? Khổ đau là gì? Hiện giờ chúng ta đang học về cái đang xuất hiện trong từng khoảnh khắc của cuộc sống, chẳng xa xôi gì cả, rất gần. Vậy khi có thọ khó chịu, cái gì có thực?

Đây là nghiên cứu Pháp, đây là bhāvanā, bắt đầu hiểu, phát triển sự hiểu rõ ràng từng chút một. Vậy cái gì đang xuất hiện ở khoảnh khắc của thọ khó chịu? Thọ có phải một pháp không? Đó là pháp gì? Đó là thọ tâm sở (vedanā cetasika). Đúng, bởi khi ta nói nó là một pháp, nó là thọ tâm sở, thì thọ (vedanā) là gì và tâm sở (cetasika) là gì? Rõ dần và rõ dần, từng chút một.

Đấy, chúng ta học về chữ, bạn có thể nhớ được nó, nhưng hiện giờ chưa có duyên để nghĩ về nó, nhưng cái đang được học thì đã được học trước đó, phải không? Năm uẩn (khandha). Vậy, thọ. Thọ có thực không? Thọ khó chịu, thọ dễ chịu? Thọ có thực, thọ là một pháp. Đúng vậy, bởi nó ở đó, nó cảm nhận, phải không?

Nó ở đó, vui; nó ở đó, khó chịu. Vậy nó là một thực tại. Vì vậy chúng ta học để hiểu những gì đang xuất hiện trong cuộc sống là những thực tại khác nhau. Không phải bất cứ ai, không phải bất cứ thứ gì. Không ai có thể làm cho nó sinh khởi, bởi ngay cả khi chúng ta đang nói chuyện đây, cái thấy vẫn sinh khởi suốt. Sao vậy? Do duyên. Nhưng cái thấy là một thực tại, thọ là một thực tại, cứng là một thực tại. Bất kể thể nào, nếu nó có thực, nó là một pháp.

Và bất cứ cái gì đang xuất hiện sinh khởi rồi diệt đi. Cái thấy không tồn tại lâu chút nào; vừa sinh khởi là nó diệt đi tức thời. Vì vậy tất cả các pháp, tất cả các pháp do duyên sinh, các pháp hữu vi (saṅkhāra dhamma).

Chúng ta học để hiểu thêm một số chữ mới, nhiều dần lên, từng chữ một. Chúng ta học để biết pháp là gì, và rồi cái đang xuất hiện được tạo duyên để sinh khởi bởi nhiều duyên.

Chúng ta học để hiểu hai mươi bốn duyên, dù ta không gọi tên chúng, nhưng bất cứ cái gì sinh khởi đều phải có các duyên cho sự sinh khởi của nó, các duyên (paccaya), như là duyên. Vậy, bất cứ cái gì do duyên sinh thì nó phải sinh khởi khi nó ở đó, được tạo duyên. Đó là pháp hữu vi, học thêm một chút nữa về pháp.

Bất cứ cái gì sinh khởi đều phải do duyên, nên nó là pháp hữu vi, được tạo duyên bởi nhiều duyên, điều mà ta có thể học sau. Nhưng ta biết không ai làm cho nó sinh khởi, mà nó sinh khởi do duyên, sinh khởi để thấy, sinh khởi để nghe. Vậy, bất cứ cái gì có thực là pháp, và bất cứ cái gì sinh khởi là pháp hữu vi. Có đúng vậy không? Để hiểu pháp hữu vi, không phải chỉ nhớ chữ, mà hiểu pháp hữu vi nghĩa là gì.

Cái thấy có phải pháp hữu vi không? Vâng, cái thấy là một pháp hữu vi, một tâm quả (vipāka citta). Chúng ta học mỗi lần chỉ một chữ để có tín tâm và hiểu biết đúng về chữ đó. Chẳng hạn, pháp là bất cứ cái gì có thực, bất kể đó là âm thanh, nó có thực, nó là một pháp. Cứng là pháp. Vậy cái thấy là pháp và thọ là pháp. Bất cứ cái gì sinh khởi, mà không có duyên tương ứng của nó, thì không thể sinh khởi. Không có mắt, không có cái in dấu lên mắt, cái thấy không thể sinh khởi. Vì vậy bất cứ cái gì sinh khởi đều được tạo duyên bởi nhiều duyên khác nhau, để được học từng chút một, về sau.

Nhưng hiểu rằng bất kể thể nào, ngay cả cái thấy, nó không thể tự mình sinh khởi hay chỉ nhờ cái mắt, bởi khi không có gì in dấu lên nó, lên mắt, thì không bao giờ có thể có cái thấy. Vậy, ngay cả một khoảnh khắc của một thực tại đang xuất hiện sinh khởi, tất cả đều do duyên.

Vì vậy một chữ khác cho các thực tại do duyên sinh là pháp hữu vi. Chúng ta đã nghe nhiều lần về thuật ngữ saṅkhāra và cả pháp hữu vi, về sau là hành uẩn (saṅkhārakkhandha), và về sau nữa là saṅkhāra trong Lý Duyên Khởi (paṭicca samuppāda), vi tế hơn, từng chút một. Và đây không phải của bất cứ ai: Vi Diệu Pháp, rất vi tế, rất phức tạp và rất sâu, nhưng nó có thể được học, từng chút một. Và học để hiểu theo từng giai đoạn chính là bhāvanā, sự phát triển hiểu biết ngay từ bước đầu.

Vì vậy chúng ta không hấp tấp muốn hiểu cái này cái kia, mà để có tín tâm vững chắc vào sự thật của vô ngã và của pháp. Rồi về sau, bất kể chúng ta nghe điều gì, nó là pháp, là pháp hữu vi, đấy.

Thế giới trong tối
Vậy hiện giờ, không còn hoài nghi về pháp nữa, phải không? Không còn hoài nghi về pháp hữu vi. Vậy cái gì đang xuất hiện hiện giờ? Lại nữa, lại nữa và lại nữa, để được nhắc nhở. Câu trả lời có thể là bất cứ điều gì bạn đã hiểu. Cái gì đang xuất hiện hiện giờ? Có câu trả lời nào không? Cái thấy, cái nghe. Mỗi lần chỉ một cái, để hiểu thêm một chút về sự vi tế của sự thật. Chúng ta nói về cái thấy hay cái nghe?

Cái nghe. Nhắm mắt lại, có thể có cái nghe không? Có. Vậy ở khoảnh khắc nghe, trời tối, phải không? Vâng, tối. Thế còn ở khoảnh khắc ngửi, chẳng phải cũng tối sao? Ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ, tất cả ở trong tối, phải không? Vậy thế giới, sự thật không hiển lộ như nó đang là. Vì vậy sự thật bị che lấp hoàn toàn, từng khoảnh khắc, không như nó đang là.

Vì vậy hãy học để chân thật với sự thật: những gì đang xuất hiện, từng khoảnh khắc, trong tối? Chỉ một điểm sáng ở khoảnh khắc thấy là không tối, nhưng hiểu biết đúng có thể hiểu bất cứ cái gì đang xuất hiện trong tối như nó đang là. Hiểu biết đúng hiểu cái đang xuất hiện như nó đang là, trong tối. Vì vậy, thế giới không hiển lộ như khi không có chút hiểu biết nào về sự thật cả. Vì vậy hiểu biết đúng thật dũng cảm, khi hiểu được sự thật rằng thế giới là tối, và chỉ khoảnh khắc thấy là sáng.

Và cái được thấy thì chưa thể là bất cứ hình dáng và hình thể của thứ gì cả. Ở khoảnh khắc thấy, nó chỉ kinh nghiệm cái có thể in dấu lên nhãn căn, rất nhỏ bé, bởi nhãn căn rất nhỏ bé, phải không? Rất nhiều khoảnh khắc của những điểm và điểm và điểm, chỉ để tạo duyên cho một hình dáng và hình thể được biết như một cái gì. Ở khoảnh khắc cho nó là một cái gì, đó không phải cái thấy, nó là như vậy.

Khoảnh khắc kinh nghiệm từ môn này sang môn khác, rất nhanh, không ai có thể tách chúng ra được cả, không một ai. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Vậy trí tuệ (paññā) bắt đầu hiểu sự thật rất vi tế, để khi nó đủ sắc, đủ rõ và đủ nhạy, nó kinh nghiệm thực tại như nó đang là. Vì vậy học để có tín tâm vào sự thật, đó chính là ba la mật chân thật. Mỗi khoảnh khắc hiểu được cái đang xuất hiện đều tạo duyên cho khoảnh khắc thiện, bởi thấy được hiểm họa của bất thiện (akusala). Chỉ một khoảnh khắc thôi, nó cứ được cộng thêm và cộng thêm, thêm một chút vô minh và dính mắc và các loại bất thiện khác trong một ngày, so với khoảnh khắc thiện.

Vì vậy hiểu biết đúng tạo duyên cho các khoảnh khắc thiện lành, đôi khi có hiểu biết và đôi khi không, nhưng chúng là thiện lành, để thấy hiểm họa của bất thiện. Vậy hiện giờ, tại sao chúng ta đến đây và nghe về cái ở khắp quanh ta, giản dị như âm thanh hay cứng hay bất cứ thứ gì, nhưng chưa từng được biết đến trước đây, như nó đang là, như nó đang xuất hiện, chỉ khi nó hiển lộ.

Dường như có cả thân này, từ đầu đến chân. Trong sự thật, không có gì cả, chỉ một khoảnh khắc kinh nghiệm một đối tượng rồi diệt đi, không được biết đến bởi sự nối tiếp của sinh và diệt quá nhanh. Vì vậy chúng ta sống trong thế giới của tự ngã (attā), luôn luôn một cái gì, luôn luôn một ai đó, lúc nào cũng vậy, nước này, nước kia, cái cây, bông hoa và vv.

Cái chết sát na
Thế giới của ý niệm, của một cái gì, của tự ngã, cho đến khi có sự phát triển hiểu biết về Tứ Thánh Đế. Lần chuyển thứ nhất: hiểu từng thực tại như nó đang là, là khổ, bất cứ cái gì sinh khởi thì diệt đi. Nhưng dù vậy, vẫn qua tướng (nimitta) của một thực tại, bởi chỉ một khoảnh khắc thấy không thể được kinh nghiệm trực tiếp bởi trí tuệ, mà phải theo lộ trình: phải có tâm (citta) trước cái thấy, rồi cái thấy diệt đi, và tâm tiếp theo không thấy nhưng kinh nghiệm cùng đối tượng ấy, bởi cái được thấy chưa diệt đi.

Chúng ta học để hiểu sự thật, để cho hiểu biết đúng làm việc của nó. Bởi vô minh không thể hiểu được gì cả. Dính mắc thì che lấp sự thật rằng cái đang xuất hiện đã diệt đi, trong khi dường như nó vẫn còn ở đó, ngay lúc này.

Vì vậy có nhiều mức độ hiểu biết. Khi không có sự nghe về sự thật nào cả, không ai biết rằng cuộc sống ngắn ngủi đến thế, ngắn chỉ như một khoảnh khắc tích tắc. Vì vậy có chữ khaṇika-maraṇa: maraṇa là chết, và khaṇika là sát na, tức cái chết sát na. Y như cái chết, bởi khi khoảnh khắc này đã mất đi, không ai cả, như hiện giờ không ai lấy nó từ thân tôi, cuộc sống của tôi, cả.

Duyên mới, khoảnh khắc mới, chỉ tiếp nối khoảnh khắc chết tức thời, không có thời gian để hối hận, để tiếc, để sầu về cái này cái kia cả, bởi nó chỉ trong tích tắc: thấy lại, nghe lại, ngửi lại, những đối tượng khác nhau, những ý niệm khác nhau từ kiếp này sang kiếp khác, chỉ có thế.

Vậy, đó là khoảnh khắc vô cùng quý giá, khoảnh khắc hiểu được sự thật, dù chỉ một chút, rất ít thôi, về sự thật, nhưng nó có thể được phát triển cứ thế và cứ thế, sâu hơn, lớn hơn, với nhiều tín tâm hơn, cứ thế và cứ thế.

Ba la mật chân thật và các bất thiện ngủ ngầm
Vì vậy hãy chân thật với sự thật, ba la mật chân thật rất quan trọng. Đức Bồ tát (bodhisatta) đã phát triển thiện pháp, các ba la mật. Có những kiếp Ngài có thể đã phạm một số giới hay đã có những khoảnh khắc bất thiện, nhưng ba la mật chân thật thì bất kể thế nào, Ngài vẫn luôn chân thật với sự thật. Vì vậy ba la mật chân thật tạo duyên cho ba la mật trí tuệ ấy, cứ tiếp tục thấy hiểm họa của vô minh và lợi lạc của việc hiểu sự thật.

Bằng không, sẽ không có khoảnh khắc nào hiểu được sự thật của cái sinh khởi rồi diệt đi trong tích tắc, ngay lúc này, cứ thế và cứ thế, để rồi thành buổi chiều này và tối nay và ngày mai, từng khoảnh khắc. Nó cứ bò dần từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, từng chút một, dần dần, rất dần dần, không ai biết. Vì vậy, bất kể là ai, để giác ngộ Tứ Thánh Đế, phải có ở đó hiểu biết đúng cùng với mọi loại thiện pháp: bố thí, trì giới, phát triển tâm trí, cho đến khi bớt dần khoảnh khắc bất thiện và nhiều hơn khoảnh khắc thiện có hiểu biết.

Ba la mật chân thật tạo duyên cho ba la mật tinh tấn (viriya pāramī), ba la mật kham nhẫn (khanti pāramī), ba la mật quyết định (adhiṭṭhāna pāramī), ba la mật xuất gia (nekkhamma pāramī), mọi loại ba la mật. Bằng không, vô minh và dính mắc vẫn luôn ở đó, ở những mức độ khác nhau: qua lậu hoặc (āsava), rồi bộc lưu (ogha), ách (yoga) và vv, không được biết đến, cách chúng vận hành, các thiện pháp, đấy.

Vậy, Đức Phật đã dạy về các thực tại, để được hiểu từng chút một, để chân thật với sự thật, ba la mật chân thật, từng chút một, để rồi một ngày sẽ có đủ duyên để trực tiếp kinh nghiệm sự thật, một cách bất ngờ. Vô ngã đến thế, ngay cả lúc này, mỗi khoảnh khắc đều là vô ngã, không ai biết khoảnh khắc tiếp theo sẽ là gì, nhưng nó ở đó, do duyên, trồi lên mà không được biết, cho đến khi nó trồi lên để được biết rõ ràng đến thế, không có ai ở đó. Và đó là Giáo lý dẫn tới việc phát triển thêm hiểu biết về sự thật, bớt vô minh và bất thiện, từng chút một.

Vì vậy, bất kể sẽ mất bao lâu để phát triển hiểu biết về khoảnh khắc này, nó phải là sự hiểu về cái đã sinh khởi hiện giờ, bởi nó ở đó, do duyên. Vậy, dần dần, những lời của Đức Phật được bắt rễ sâu hơn và sâu hơn và sâu hơn, rằng chúng thật đến thế. Vậy, điều này tạo duyên cho tính cách thiện lành, trở nên thân thiện hơn, với tâm bi, sự tha thứ. Vì vậy cuộc sống trở nên trong sạch hơn và trong sạch hơn, bởi tín tâm sở (saddhā cetasika) ở đó, làm trong sạch tâm và các tâm sở sinh khởi cùng nhau, không cho các tâm sở bất thiện đến gần, hay lọt vào chút nào.

Chẳng phải đúng vậy sao? Chẳng phải đây là sự hiểu sao? Không phải chỉ làm một cái gì mà không có chút hiểu biết nào, chỉ hy vọng, chỉ mong muốn kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm cái gì? Khi không có hiểu biết, làm sao nó có thể hiểu cái đang xuất hiện? Bởi tất cả đều là pháp, những thực tại bất ngờ, khoảnh khắc bất ngờ, lúc nào cũng vậy, từ nay cứ thế mãi.

Vậy, hiểu biết đúng từ sự nghe, sự suy xét: lần chuyển thứ nhất của Tứ Thánh Đế, nó phải là hiểu biết rõ ràng, hiểu biết rất sắc, hiểu biết lớn, đủ để tạo duyên cho lần chuyển thứ hai của Tứ Thánh Đế. Người ta không hiểu như nó đang là, ba lần chuyển của Thánh đế, mà không có chút hiểu biết nào, chỉ mong đợi kinh nghiệm cái này cái kia. Thế còn ngay lúc này? Nó không được biết đến, vậy nên chúng ở đó: vô minh lậu (avijjāsava), hữu lậu (bhavāsava), kiến lậu (diṭṭhāsava), dục lậu (kāmāsava), không được biết đến, cái bất thiện ngủ ngầm đến thế.

Hiểu cái đã sinh khởi

Vậy, hãy học để hiểu sự thật và chân thật với sự thật, ba la mật chân thật. Nó sẽ tạo duyên cho mọi loại ba la mật nữa, để hỗ trợ khoảnh khắc có tín tâm vững chắc vào sự thật. Đừng bao giờ làm một cái gì, bởi cái đang xuất hiện chỉ ở ngay lúc này. Hãy hiểu cái đã sinh khởi ngay lúc này. Có đúng vậy không?

Mỗi chữ đều rất sâu, bởi nó rất vi tế, nhưng ở khoảnh khắc hiểu, nó có thể hiểu được cái rất vi tế ấy, cái vẫn có thể được hiểu. Không phải bằng suy nghĩ, mơ mộng, hay làm một cái gì, mà bằng sự nghe và sự suy xét về những gì đang xuất hiện ở đúng khoảnh khắc ấy.
Không có ai cả. Vậy, những gì đang xuất hiện? Mỗi tâm đều có đặc tính riêng của nó, với những tâm sở khác nhau sinh khởi cùng nhau, mỗi cái đảm nhận chức năng khác nhau, bởi chính nó, bởi tâm là vị chủ trong việc kinh nghiệm cái đang xuất hiện hiện giờ.

Chúng ta chưa nói về bất cứ tâm sở nào, phải không? Chỉ đang nói về cái đang thấy hiện giờ mà vẫn chưa được biết như nó đang là. Dường như không có gì phải hoài nghi: nó là một thực tại, bởi nó thấy hiện giờ. Nhưng nó là gì? Đặc tính của nó không được để tâm tới, để biết rằng nó khác với cái được thấy.

Trong cuộc sống, có khoảnh khắc nào hiểu được sự khác biệt giữa cái thấy và cái được thấy hay không? Vậy, đã đến lúc nói sawadii ka.

Thành kính tri ân Achaan Sujin Boriharnwanaket đã ban bài pháp thoại này.

Nghe bài pháp: youtu.be/6D32UpOZndU