Từng chút một

Con đường để hiểu thực tại

[Maeve] Thưa Achaan, thỉnh thoảng bà có nhắc tới sự tối, và rằng nếu có một đối tượng sinh khởi khác với đối tượng của cái thấy… bà nói thêm một chút về điều đó được không?

[A. Sujin] Tôi nghĩ rằng thế giới mà chúng ta đang sống trong đó với vô minh thì khác hẳn với khi trí tuệ (paññā) xuyên thấu bản chất thật của thực tại. Chẳng hạn ngay lúc này, dường như đó là thế giới của những hình sắc và những thứ ở trong và quanh mình, cây cối và màu sắc, nhưng thật ra chỉ là một khoảnh khắc kinh nghiệm một đối tượng, và ai kinh nghiệm nó? Tâm (citta), cái vốn là khả năng kinh nghiệm một đối tượng, đang kinh nghiệm nó hiện giờ, nhưng chúng ta không có hiểu biết đúng về chính tâm như nó đang là, khi không có chánh niệm.

Chẳng hạn, ánh sáng hiện giờ, là đối tượng của cái gì? Của chính cái thấy, của cái giới hay yếu tố (dhātu) có thể kinh nghiệm nó, và giới ấy hoàn toàn không phải sắc (rūpa).

Điều đó dẫn chúng ta tới chỗ bắt đầu hiểu thực tại ấy là gì: không hình dáng, không hình thể, không ánh sáng, nên nó tối đến thế.

Vậy, trong sự thật, khi trí tuệ được phát triển trọn vẹn, thế giới trái ngược với thế giới khi không có trí tuệ sinh khởi và kinh nghiệm nó: phải có khoảnh khắc của sự tối, bởi bạn thấy đó, tâm hộ kiếp (bhavaṅga) là tối, ý môn (manodvāra) là tối, và khoảnh khắc kinh nghiệm một đối tượng qua những môn khác ngoài nhãn căn thì phải là tối.

Vậy ở khoảnh khắc ấy không có tự ngã, không có ai cả, chỉ có sự tối cùng với tính chất kinh nghiệm một đối tượng của nó ngay khi ấy, tùy đó là gì. Có thể là cảm thọ, có thể là cứng, có thể là suy nghĩ, có thể là bất cứ gì, trong tối. Vậy nó không giống thế giới này, nó là một thế giới khác, với mỗi lần một đối tượng, như những giới khác nhau. Vậy, nó tự nhiên đến thế, tâm là tối, bất kể nó sinh khởi khi nào: không hình dáng, không hình thể. Nhưng khả năng kinh nghiệm thì có đó. Vậy, đối tượng ấy hiển lộ cho chính cái tâm kinh nghiệm nó.

[Jonothan] Vậy, nếu chỉ có ánh sáng khi có khoảnh khắc thấy, và nếu tại mỗi thời điểm chỉ có một khoảnh khắc tâm, thì có nghĩa là vì những khoảnh khắc thấy chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong… Vậy sự tối nhiều hơn ánh sáng.

[A. Sujin] Vâng, tôi nghĩ rằng chúng ta không thể tưởng tượng được điều gì khi nó chưa xảy ra, nên trong lúc đang nói đây, chúng ta không nên nghĩ về việc có bao nhiêu triệu khoảnh khắc thấy, để rồi nó tiếp nối thành cái thấy không ngừng. Đó chỉ là suy nghĩ.

Mà hiểu biết đúng là thấy được sự phân biệt giữa cái kinh nghiệm nó và đối tượng mà người ta vẫn quen lấy ra từ đó một cái gì: như bạn tôi, nhà tôi, đồ của tôi. Thật ra chỉ là một khoảnh khắc hiển lộ như đối tượng thị giác. Bất cứ khi nào tâm thấy, nó chỉ thấy có thế, rồi suy nghĩ tiếp nối, và vì vậy mới có chữ tướng của sắc (rūpa nimitta), bởi chỉ một tổ hợp sắc (kalāpa), hay nhiều tổ hợp sắc, cũng không đủ để tạo duyên cho sự ghi nhớ về mắt, về tai, hay về người và vật.

Vậy chúng ta sống trong thế giới của vô minh. Bao nhiêu… Người ta biết có bao nhiêu hiểu biết đúng ở đó, để thấy rằng nhờ có được hiểu biết từng chút một, nó có thể loại trừ ý niệm về đồ vật, về một cái gì, hay về tôi, ra khỏi các thực tại. Đó là cách duy nhất.

[Jon] Và cái mà chúng ta lấy ra từ đối tượng thị giác thì lớn đến thế…

[A. Sujin] …suy nghĩ. Vậy, suy nghĩ về thực tại, cái vốn tối đến thế trước khi kinh nghiệm bất cứ đối tượng nào, như tâm hộ kiếp: không có đối tượng nào hiển lộ, nên không ai có thể kinh nghiệm được nó tối đến mức nào. Nhưng khi có một khoảnh khắc kinh nghiệm một đối tượng, thì đã đến lúc thật sự hiểu rằng đối tượng hiển lộ là do tâm.

[Jon] Và cũng do căn, do nhãn căn nữa.

[A. Sujin] Không suy nghĩ gì cả, không suy nghĩ. Con đường để hiểu thực tại là: một khoảnh khắc kinh nghiệm cùng với hiểu biết về thực tại mà người ta đã học trước đó, về đối tượng thị giác, về cái thấy.

[Jon] Vậy khoảnh khắc hiện tại đang kinh nghiệm thế giới qua nhãn môn chỉ là một khoảnh khắc của nhãn thức.

[A. Sujin]

Chúng ta không cần phải nói hay bảo rằng một khoảnh khắc, mà học để hiểu rằng cái ta cho là người và vật, trong sự thật, chỉ là thực tại có thể tiếp xúc hay chạm vào nhãn căn và hiển lộ. Nếu không có nhãn căn thì thực tại ngay lúc này hoàn toàn không thể hiển lộ. Chỉ có thế, chỉ có thế thôi. Nhưng vô minh hoàn toàn không hiểu điều đó. Và phải mất thời gian để thật sự hiểu được đối tượng thị giác chỉ là một thực tại.

[Jon] Chỉ cần thoáng thấy được điều đó ở mức độ tư duy thôi là đã cho ta một cách nhìn hoàn toàn khác về mọi thứ, nhưng cái thoáng ấy có đó một khoảnh khắc rồi mất.

[A. Sujin] Vì vậy chúng ta có thể hiểu được phần quan trọng của tưởng (saññā). Tưởng cứ đi cùng với suy nghĩ và với mọi thứ, trừ tưởng về pháp ngay lúc này. Vì vậy hiện giờ chúng ta đang phát triển tưởng về pháp, và bằng chứng là: có hay không có các duyên cho chánh niệm hay biết ngay lúc này. Rồi điều đó chứng tỏ rằng tưởng đã đủ vững để tạo duyên cho những khoảnh khắc chánh niệm.

[Sukin] Đôi khi dường như cái tập quán muốn kiểm soát cũng xâm nhập vào cả địa hạt của hiểu biết tư duy.

[A. Sujin] Đó là các tập quán, chúng ta dùng chữ tập quán, bởi nó chính là tập quán mà. (Bà cười)

[Jon] Nhưng con vẫn còn hơi lúng túng về tưởng, và bà vừa nói tưởng tạo duyên cho những khoảnh khắc…

[A. Sujin] Chẳng hạn, một người đã nghe về đối tượng thị giác rất nhiều lần, vậy nó tùy thuộc vào tưởng, xem tưởng có tạo duyên cho chánh niệm ngay lúc này hay không, bắt đầu hiểu đối tượng thị giác chỉ là đối tượng thị giác. Chúng ta sống với đối tượng thị giác, nhưng chúng ta nghĩ về rất nhiều thứ.

Vậy trong sự thật, khi chúng ta nghĩ về khoảnh khắc chưa có đối tượng nào hiển lộ, rất tối, rồi chỉ một ánh loé, một sự hiển lộ rất nhanh của một đối tượng qua mỗi lần một môn, không trộn lẫn, không cùng lúc. Vậy, người ta có thể thấy rằng mình đang sống trong tối cùng với suy nghĩ, chỉ là suy nghĩ, bởi có thể có suy nghĩ ngay cả khi hoàn toàn không có cái thấy, không có cái nghe. Khoảnh khắc thấy chỉ như một ánh loé, và cái nghe âm thanh cũng như một ánh loé.

Tất cả các căn môn đều như những ánh loé, nhưng suy nghĩ thì giữ lại mọi thứ nó đã kinh nghiệm như một cái gì thường hằng, cứ suốt như vậy, cho đến khi trí tuệ phân định được bản chất thật của chúng.

Và người ta có thể thấy rằng điều đó không đáng sợ lắm: khi mọi thứ đã mất đi hoàn toàn, cái còn lại là sự tối, nhưng trí tuệ thì có đó. Bằng không thì chính cái tôi mới là cái hoảng sợ đến thế trước một việc như vậy. Nhưng khi đó là trí tuệ, thì đó là hiểu biết về chính cái kinh nghiệm, cái vốn là tối, nó phải như vậy.

Vậy người ta trở nên quen hơn với việc hiểu đặc tính của tâm và của danh (nāma), nhưng điều này phải được ứng dụng cứ thế và cứ thế và cứ thế, cho đến khi ý niệm về tự ngã bị tận diệt hoàn toàn. Và người ta nhận ra rằng điều đó là không thể, nếu không có trí tuệ ở mức độ cao hơn, hay tuệ minh sát (vipassanā ñāṇa) ở mức độ cao hơn, cái rõ ràng hơn và có thể xuyên thấu ngày càng tốt hơn, bởi ý niệm về tự ngã đã bắt rễ sâu đến thế. Ngay cả khi không có gì cả, chỉ có một thực tại, thì nó vẫn là tôi, là ta, nó thuộc về tôi, bởi nó có đó, không gì khác.

Rồi, đến khi ấy chúng ta hiểu được tà kiến (micchā diṭṭhi), sự chấp thủ như là tự ngã. Dù đó chỉ là một thực tại, bất kể đó là cứng hay nóng hay lạnh, nó vẫn là tôi hay thân tôi, một phần của thân tôi.

Giống như hiện giờ chúng ta nghĩ rằng mình có răng. Chỉ có trong trí nhớ, nó không hiển lộ, và trong sự thật thì tất cả các thực tại hữu vi, tất cả các sắc, sinh và diệt quá nhanh. Vậy, không có răng nào cả khi không có khoảnh khắc kinh nghiệm cứng và lấy nó làm một cái gì. Mà thật ra đó chỉ là khoảnh khắc kinh nghiệm một đối tượng rồi mất đi, hoàn toàn không bao giờ trở lại. Vậy, chúng ta có gì trong cuộc sống? Không có gì, chỉ một khoảnh khắc kinh nghiệm rồi nó đi mất, cứ suốt như vậy.

[Maeve] Thưa Khun Sujin, tưởng có thể ghi nhớ kinh nghiệm trực tiếp về một thực tại như chính nó không?

[A. Sujin] Sao lại không?

[Maeve] Và rồi nghĩ về nó.

[A. Sujin] Tưởng sinh khởi cùng với mỗi tâm, và vì vậy chúng ta sẽ còn nghe nhiều hơn về tưởng vô ngã (anattā saññā), và tưởng vô thường (anicca saññā). Bằng không thì hiện giờ chỉ có tưởng thường (nicca saññā) và tưởng ngã (attā saññā) thôi. Vậy tưởng thì khác khi nó đi kèm với mức độ trí tuệ ấy nữa.

[Jon] Vậy, tiếp theo câu hỏi của Maeve, xin lỗi đã ngắt lời bà, điều đó có nghĩa là tất cả những khoảnh khắc kinh nghiệm cùng với hiểu biết, cộng với tất cả những khoảnh khắc kinh nghiệm cùng với tà kiến, đều được tích lũy cách nào đó trong tưởng.

[A. Sujin] Tưởng sinh và diệt như các thực tại khác, nhưng sự phức hợp từ những khoảnh khắc nhiều năm trước cho tới bây giờ: chúng ta không thể biết trong mỗi khoảnh khắc tâm có những gì ở trong đó, cho tới khi có các duyên cho sự sinh khởi của nó. Vậy ta có thể thấy mình đã tích lũy bao nhiêu, thiện hay bất thiện.

[Maeve] Có người có thể nghe, có thể chưa từng dính dáng gì tới Vi Diệu Pháp, rồi nghe những điều bà đang nói, và sự ghi nhớ… điều đó có thể là một duyên cho sự ghi nhớ những kinh nghiệm quá khứ ấy, những kinh nghiệm trực tiếp trong quá khứ ấy.

[A. Sujin] Nó chỉ là vấn đề hiểu được điều mình đã nghe, nó phát triển cứ thế và cứ thế, hiểu ngày càng tốt hơn. Vậy, trí tuệ là hiểu biết về thực tại như nó đang là, một cách hoàn hảo.

Khi nó là siêu thế (lokuttara), vượt trên mọi thế giới, thì nó cũng là hiểu biết về bản chất của Niết bàn (nibbāna). Không phải là có một cái gì mà tôi kinh nghiệm và tôi không biết nó là gì, hoàn toàn không phải như vậy. Trí tuệ tăng trưởng và tăng trưởng, và trở nên xả ly hơn với những đối tượng khác nhau, đó là chức năng của trí tuệ, đối nghịch với tham (lobha). Vì vậy người ta có thể tự mình là nơi nương nhờ của chính mình, bằng chính hiểu biết của mình. Khi có dính mắc, trí tuệ biết rằng đó là sai, không phải là…

[Sukin] Ở khoảnh khắc siêu thế, kinh nghiệm Niết bàn là biết được nó là gì, phải không?

[A. Sujin] Sao lại không? Bởi nó phải là trí tuệ, trí tuệ siêu thế. Và khoảnh khắc ấy cũng được gọi là thiền siêu thế (lokuttara jhāna). Khác với thiền thông thường, tức sự chuyên chú trên đối tượng (ārammaṇa upanijjhāna), đây là sự chuyên chú trên đặc tính (lakkhaṇa upanijjhāna), bởi đặc tính (lakkhaṇa) của Niết bàn hiển lộ.

Nguồn: https://dhammatranscripts.blogspot.com/2005/10/the-way-to-understand-reality.html